Thứ Năm, 23 tháng 4, 2015

Quy định về Cấp phép xây dựng nhà ở riêng lẻ ở đô thị

Đề nghị Luật sư tư vấn cho tôi về trình tự, thủ tục xin cấp phép xây dựng nhà ở riêng lẻ ở đô thị? 


Bộ phận tư vấn luật bất động sản của Công ty Luật TNHH Everest trả lời:

UBND cấp huyện là cơ quan có thẩm quyền cấp Giấy phép xây dựng nhà ở riêng lẻ ở đô thị thuộc địa giới hành chính do mình quản lý.

Người xin cấp Giấy phép xây dựng nhà ở riêng lẻ ở đô thị phải nộp bộ hồ sơ xin cấp Giấy phép xây dựng, gồm: 1- Đơn xin cấp Giấy phép xây dựng theo mẫu quy định. Trường hợp xin cấp Giấy phép xây dựng tạm có thời hạn thì trong đơn xin cấp Giấy phép xây dựng còn phải có cam kết tự phá dỡ công trình khi Nhà nước thực hiện giải phóng mặt bằng; 2- Bản sao một trong những giấy tờ về quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật; 3- Bản vẽ thiết kế thể hiện được vị trí mặt bằng, mặt cắt, các mặt đứng chính; mặt bằng móng của công trình; sơ đồ vị trí hoặc tuyến công trình; sơ đồ hệ thống và điểm đấu nối kỹ thuật cấp điện, cấp nước, thoát nước mưa, thoát nước thải. 

Cơ quan cấp Giấy phép xây dựng (UBND cấp huyện) có nhiệm vụ tiếp nhận hồ sơ xin cấp Giấy phép xây dựng, căn cứ vào loại hồ sơ xin cấp Giấy phép xây dựng kiểm tra tính hợp lệ của hồ sơ.

Khi nhận đủ hồ sơ hợp lệ, cơ quan cấp Giấy phép xây dựng phải có giấy biên nhận, trong đó hẹn ngày trả kết quả. Giấy biên nhận được lập thành 02 bản, 01 bản giao cho người xin cấp Giấy phép xây dựng và 01 bản lưu tại cơ quan cấp Giấy phép xây dựng. Thời hạn cấp Giấy phép xây dựng đối với nhà ở riêng lẻ không quá 15 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ.
Trường hợp hồ sơ xin cấp Giấy phép xây dựng chưa hợp lệ, cơ quan cấp Giấy phép xây dựng giải thích, hướng dẫn cho người xin cấp Giấy phép xây dựng, bổ sung hồ sơ theo đúng quy định. Thời gian hoàn chỉnh hồ sơ không tính vào thời hạn cấp Giấy phép xây dựng.
Căn cứ các quy định tại Nghị định số 12/2009/NĐ-CP của Chính phủ ngày12/02/2009 về quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình và Nghị định 83/2009/NĐ-CP 15/10/2009 sửa đổi, bổ sung một số điều Nghị định số 12/2009/NĐ-CP.

Hy vọng tư vấn pháp luật “Quy định về Cấp phép xây dựng nhà ở riêng lẻ ở đô thị” có thể mang tới cho Quý vị các thông tin hữu ích. Tuy nhiên để có đáp án chính xác, Quý vị vui lòng liên hệ với Tổng đài tư vấn pháp luật trực tuyến của Công ty Luật TNHH Everest 1900 6218 để nhận được đáp án nhanh và chính xác nhất từ các luật sư có kinh nghiệm.

Cấp Giấy phép xây dựng nhà ở nông thôn

Luật sư có thể tư vấn cho tôi vụ việc cụ thể như sau: Cá nhân, hộ gia đình muốn xin cấp phép xây dựng nhà ở tại nông thôn thực hiện tại đâu; trình tự, thủ tục xin cấp phép như thế nào?


Bộ phận tư vấn luật bất động sản của Công ty Luật TNHH Everest trả lời:

Căn cứ các quy định tại Nghị định số 12/2009/NĐ-CP của Chính phủ ngày12/02/2009 về quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình và Nghị định 83/2009/NĐ-CP 15/10/2009 sửa đổi, bổ sung một số điều Nghị định số 12/2009/NĐ-CP, thì:

UBND xã là cơ quan có thẩm quyền cấp Giấy phép xây dựng nhà ở riêng lẻ tại những điểm dân cư nông thôn đã có quy hoạch xây dựng được duyệt thuộc địa giới hành chính do mình quản lý. Riêng đối với nhà ở riêng lẻ tại vùng sâu, vùng xa không thuộc điểm dân cư tập trung; nhà ở riêng lẻ tại các điểm dân cư nông thôn chưa có quy hoạch xây dựng được duyệt không phải xin cấp phép xây dựng.

Đối với các trung tâm xã, cụm xã nếu có hướng phát triển thành đô thị, nhưng chưa có quy hoạch xây dựng được duyệt, thì UBND huyện phải đưa ra các quy định để làm căn cứ cho việc cấp giấy phép xây dựng và quản lý trật tự xây dựng theo quy định.

Người xin cấp Giấy phép xây dựng nhà ở nông thôn, phải nộp 01 bộ hồ sơ, gồm: Đơn xin cấp Giấy phép xây dựng theo mẫu quy định; Bản sao một trong những giấy tờ về quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật; Sơ đồ mặt bằng xây dựng công trình trên lô đất và các công trình liền kề nếu có do chủ nhà ở đó tự vẽ, trong đó phải thể hiện rõ các kích thước và diện tích chiếm đất của ngôi nhà, các công trình trên lô đất, khoảng cách tới các công trình xung quanh và các điểm đấu nối điện, thông tin liên lạc, cấp - thoát nước với các công trình hạ tầng kỹ thuật công cộng bên ngoài (nếu có). Trên bản vẽ phải ghi rõ tên chủ nhà, địa chỉ nơi ở, địa điểm xây dựng và tên, địa chỉ người vẽ sơ đồ đó.

Cơ quan cấp Giấy phép xây dựng (UBND xã) có nhiệm vụ tiếp nhận hồ sơ xin cấp Giấy phép xây dựng, căn cứ vào loại hồ sơ xin cấp Giấy phép xây dựng kiểm tra tính hợp lệ theo quy định.

Khi nhận đủ hồ sơ hợp lệ, cơ quan cấp Giấy phép xây dựng phải có giấy biên nhận, trong đó hẹn ngày trả kết quả. Giấy biên nhận được lập thành 02 bản, 01 bản giao cho người xin cấp Giấy phép xây dựng và 01 bản lưu tại cơ quan cấp Giấy phép xây dựng. Thời hạn cấp Giấy phép xây dựng đối với nhà ở riêng lẻ không quá 15 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ.

Trường hợp hồ sơ xin cấp Giấy phép xây dựng chưa hợp lệ, cơ quan cấp Giấy phép xây dựng giải thích, hướng dẫn cho người xin cấp Giấy phép xây dựng, bổ sung hồ sơ theo đúng quy định. Thời gian hoàn chỉnh hồ sơ không tính vào thời hạn cấp Giấy phép xây dựng.

Công ty Luật TNHH Everest với đội ngũ luật sư, chuyên gia nhiều kinh nghiệm có thể hỗ trợ quý vị giải quyết các vấn đề pháp lý. Hãy gọi 1900 6218 – Tổng đài tư vấn pháp luật online của Công ty Luật TNHH Everest.

Cấp Giấy chứng nhận cho đất được giao không đúng thẩm quyền

Đề nghị luật sư, chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest tư vấn cho tôi vấn đề sau: Cấp Giấy chứng nhận cho đất được giao không đúng thẩm quyền?

Thêm chú thích


Bộ phận tư vấn luật bất động sản của Công ty Luật TNHH Everest trả lời:

Đất được giao không đúng thẩm quyền nhưng người đang sử dụng đất có giấy tờ chứng minh về việc đã nộp tiền cho cơ quan, tổ chức để được sử dụng đất trước ngày 01.07.2004, nay được UBND cấp xã xác nhận là đất không có tranh chấp, phù hợp với quy hoạch thì người đang sử dụng đất được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà và tài sản gắn liền với đất (gọi tắt là Giấy chứng nhận) theo quy định sau đây:

Trường hợp đất đã được sử dụng ổn định từ trước ngày 15.10.1993 thì được cấp Giấy chứng nhận đối với diện tích đất đã được giao và không phải nộp tiền sử dụng đất.

Trường hợp đất đã được sử dụng ổn định trong khoảng thời gian từ ngày 15.10.1993 đến trước ngày 01.07.2004 thì thực hiện như sau:

Đối với diện tích đất được giao thuộc nhóm đất nông nghiệp hoặc đất phi nông nghiệp nhưng không phải đất ở thì được cấp Giấy chứng nhận và không phải nộp tiền sử dụng đất;

Đối với diện tích đất được giao làm đất ở trong hạn mức giao đất ở quy định tại khoản 2 Điều 83 của Luật Đất đai (đối với đất giao cho hộ gia đình, cá nhân làm nhà ở tại nông thôn) và khoản 5 Điều 84 của Luật Đất đai (đối với đất giao cho hộ gia đình, cá nhân tự xây dựng nhà ở tại đô thị) thì được cấp Giấy chứng nhận và không phải nộp tiền sử dụng đất;

Đối với diện tích đất còn lại đã có nhà ở (nếu có) thì được cấp Giấy chứng nhận và phải nộp tiền sử dụng đất theo mức bằng 50% tiền sử dụng đất đối với diện tích trong hạn mức giao đất ở; quy định này chỉ được thực hiện một lần đối với hộ gia đình, cá nhân, lần giao đất sau thu 100% tiền sử dụng đất;

Đối với diện tích còn lại không có nhà ở (nếu có) được xác định là đất nông nghiệp theo hiện trạng sử dụng, nếu người sử dụng đất đề nghị được chuyển sang sử dụng vào mục đích phi nông nghiệp thì được cấp Giấy chứng nhận và phải nộp tiền sử dụng đất theo mức: Chuyển từ đất vườn, ao trong cùng thửa đất có nhà ở thuộc khu dân cư không được công nhận là đất ở sang làm đất ở thì thu tiền sử dụng đất bằng 50% chênh lệch giữa thu tiền sử dụng đất tính theo giá đất ở với thu tiền sử dụng đất tính theo giá đất nông nghiệp;

Trường hợp hộ gia đình, cá nhân được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép chuyển mục đích sử dụng đất từ đất vườn, ao không được công nhận là đất ở hoặc đất nông nghiệp sang đất sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp thì thu tiền sử dụng đất bằng chênh lệch giữa thu tiền sử dụng đất tính theo giá đất sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp với thu tiền sử dụng đất tính theo giá đất nông nghiệp.
Điều 16 Nghị định số 84/2007/NĐ-CP của Chính phủ (ngày 25.05.2007, quy định bổ sung về việc cấp Giấy chứng nhận QSDĐ, thu hồi đất, thực hiện QSDĐ, trình tự, thủ tục bồi thường, hỗ trợ, tại định cư khi Nhà nước thu hồi đất và giải quyết khiếu nại về đất đai), đã được sửa đổi, bổ sung theo Nghị định số 88/2009/NĐ-CP của Chính phủ (ngày 19.10.2009 về cấp Giấy chứng nhận QSDĐ, quyền sở hữu nhà và tài sản gắn liền với đất), theo đó:

Bài viết: "Cấp Giấy chứng nhận cho đất được giao không đúng thẩm quyền", nhằm mục đích phổ biến kiến thức pháp luật. Điều luật áp dụng trong tư vấn pháp luật nêu trên có thể đã bị thay thế hoặc hủy bỏ. Vì vậy, để có thông tin chính xác cho tình huống cụ thể của Quý vị, Quý vị nên tìm đến sự hỗ trợ của các chuyên gia và tổ chức chuyên nghiệp. Trường hợp cần sự hỗ trợ của luật sư Công ty Luật TNHH Everest, hãy gọi: 1900 6218 - Tổng đài tư vấn pháp luật trực tuyến.

Thủ tục cấp sổ đỏ cho đất đã chuyển nhượng

Kính đề nghị các luật sư, chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest giải đáp thắc mắc sau đây của tôi: Thủ tục cấp sổ đỏ cho đất đã chuyển nhượng?


Bộ phận tư vấn luật bất động sản của Công ty Luật TNHH Everest trả lời:

Vấn đề của anh chị hỏi đã được quy định tại Nghị định số 84/2007/NĐ-CP của Chính phủ (ngày  25.05.2007, quy định bổ sung về việc cấp Giấy chứng nhận QSDĐ, thu hồi đất, thực hiện QSDĐ, trình tự, thủ tục bồi thường, hỗ trợ, tại định cư khi Nhà nước thu hồi đất và giải quyết khiếu nại về đất đai), đã được sửa đổi, bổ sung theo Nghị định số 88/2009/NĐ-CP của Chính phủ (ngày 19.10.2009 về cấp Giấy chứng nhận QSDĐ, quyền sở hữu nhà và tài sản gắn liền với đất).

Căn cứ quy định tại Điều 11 Nghị định số 84/2007/NĐ-CP: trường hợp người đang sử dụng đất do nhận chuyển nhượng, nhận thừa kế, nhận tặng cho quyền sử dụng đất hoặc nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất ở (sau đây gọi là người nhận chuyển quyền) trước ngày 01.7.2004 mà chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất (gọi tắt là Giấy chứng nhận) nhưng có giấy tờ về việc chuyển quyền sử dụng đất có chữ ký của bên chuyển quyền (không có xác nhận của cơ quan có thẩm quyền về việc chuyển quyền) thì không phải thực hiện thủ tục chuyển quyền sử dụng đất, người nhận chuyển quyền nộp hồ sơ xin cấp Giấy chứng nhận tại UBND xã, thị trấn (đối với hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất tại xã, thị trấn) hoặc tại Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất (đối với hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất tại phường).

Trường hợp chuyển quyền sử dụng đất, nhà ở gắn liền với đất ở mà các bên đã lập xong hợp đồng, giấy tờ về chuyển quyền, nhưng người chuyển quyền sử dụng đất không nộp Giấy chứng nhận hoặc một trong các loại giấy tờ về quyền sử dụng đất quy định tại khoản 1 và khoản 5 Điều 50 của Luật Đất đai (gọi là giấy tờ về quyền sử dụng đất) để làm thủ tục chuyển quyền thì thực hiện như sau:

Người nhận chuyển quyền nộp hồ sơ gồm đơn xin cấp Giấy chứng nhận và hợp đồng, giấy tờ về chuyển quyền sử dụng đất để được cấp Giấy chứng nhận;

Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất căn cứ vào hợp đồng, giấy tờ về chuyển quyền sử dụng đất, thông báo bằng văn bản cho người chuyển quyền, niêm yết tại trụ sở UBND cấp xã nơi có đất về việc làm thủ tục cấp Giấy chứng nhận cho người nhận chuyển quyền và việc hủy các loại giấy tờ về quyền sử dụng đất nhưng chưa được giao cho người nhận chuyển quyền đối với trường hợp chuyển quyền toàn bộ diện tích đất. Trường hợp không rõ địa chỉ của người chuyển quyền để thông báo thì phải đăng tin trên báo địa phương ba số liên tiếp;

Sau thời hạn 30 ngày, kể từ ngày thông báo hoặc đăng tin lần đầu tiên trên báo địa phương về việc làm thủ tục cấp Giấy chứng nhận cho người nhận chuyển quyền mà không có đơn đề nghị giải quyết tranh chấp thì thủ tục cấp Giấy chứng nhận thực hiện theo quy định của pháp luật về nhà ở; UBND cấp có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận quyết định huỷ Giấy chứng nhận đã cấp cho bên chuyển quyền nếu bên chuyển quyền không nộp Giấy chứng nhận; nếu bên chuyển quyền nộp Giấy chứng nhận thì chỉnh lý hoặc cấp mới Giấy chứng nhận theo hướng dẫn của Bộ TN&MT;

Trường hợp có đơn đề nghị giải quyết tranh chấp thì Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất hướng dẫn các bên nộp đơn đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết tranh chấp theo quy định của Luật Đất đai.

Bài viết: “Thủ tục cấp sổ đỏ cho đất đã chuyển nhượng” không nhằm mục đích thương mại. Tuy nhiên chúng tôi khuyến nghị Quý vị chỉ nên xem tư vấn pháp luật nêu trên như nguồn tài liệu tham khảo. Hãy liên hệ với Tổng đài tư vấn pháp luật trực tuyến của Công ty Luật Everest: 1900 6218 để có câu trả lời chính xác cho các vấn đề của Quý vị.

Quy định về hội nghị nhà chung cư

Đề nghị Luật sư tư vấn, pháp luật hiện hành quy định như thế nào về tổ chức và hoạt động của hội nghị nhà chung cư?


Bộ phận tư vấn luật bất động sản của Công ty Luật TNHH Everest trả lời:

Theo quy định tại Điều 11 Quy chế quản lý sử dụng nhà chung cư, Ban hành kèm theo Quyết định số 08 /2008/QĐ-BXD ngày 28/05/2008 của Bộ trưởng Bộ Xây dựng, thì tổ chức, hoạt động của Hội nghị nhà chung cư được quy định như sau:

Hội nghị nhà chung cư là hội nghị các chủ sở hữu và người sử dụng nhà chung cư. Chủ sở hữu, người sử dụng nhà chung cư có thể cử đại diện hoặc uỷ quyền cho người khác tham dự Hội nghị nhà chung cư.

Hội nghị nhà chung cư có thể tổ chức cho một nhà chung cư hoặc một cụm nhà chung cư. Trường hợp tổ chức Hội nghị cho một nhà chung cư thì số người tham dự phải có số lượng trên 50% tổng số chủ sở hữu và người sử dụng nhà chung cư. Trường hợp tổ chức Hội nghị cho một cụm nhà chung cư thì mỗi nhà chung cư phải cử đại biểu tham dự, số đại biểu tham dự của mỗi nhà chung cư phải có số lượng trên 10% số chủ sở hữu và người sử dụng của mỗi nhà chung cư đó.

Hội nghị nhà chung cư được tổ chức mỗi năm 01 lần, trong trường hợp cần thiết có thể tổ chức Hội nghị bất thường khi có trên 50% tổng số các chủ sở hữu và người sử dụng đề nghị bằng văn bản hoặc khi Ban quản trị đề nghị đồng thời có văn bản đề nghị của 30% chủ sở hữu và người sử dụng nhà chung cư.

Trong thời hạn không quá 12 tháng, kể từ ngày nhà chung cư được bàn giao đưa vào sử dụng và có 50% căn hộ được bán trở lên (kể cả số căn hộ mà Chủ đầu tư giữ lại) thì Chủ đầu tư (đối với nhà chung cư nhiều chủ sở hữu) hoặc chủ sở hữu (đối với nhà chung cư có một chủ sở hữu) có trách nhiệm tổ chức Hội nghị nhà chung cư lần đầu. Trường hợp nhà chung cư không xác định được Chủ đầu tư thì đơn vị đang quản lý nhà chung cư đó hoặc UBND cấp quận có trách nhiệm chủ trì tổ chức Hội nghị nhà chung cư lần đầu.

Hội nghị nhà chung cư là cơ quan có quyền cao nhất trong việc quản lý sử dụng nhà chung cư đó theo quy định của pháp luật về nhà ở và Quy chế này. Hội nghị nhà chung cư quyết định các vấn đề sau:

Đề cử và bầu Ban quản trị; đề cử và bầu bổ sung, bãi miễn thành viên Ban quản trị trong trường hợp tổ chức Hội nghị nhà chung cư bất thường; thông qua hoặc bổ sung, sửa đổi Quy chế hoạt động của Ban quản trị; thông qua mức phụ cấp trách nhiệm cho các thành viên Ban quản trị và các chi phí hợp lý khác phục vụ cho hoạt động của Ban quản trị;

Thông qua hoặc bổ sung, sửa đổi Bản nội quy quản lý sử dụng nhà chung cư;

Thông qua việc lựa chọn doanh nghiệp quản lý vận hành, doanh nghiệp bảo trì nhà chung cư;

Thông qua báo cáo công tác quản lý vận hành, bảo trì và báo cáo tài chính của các đơn vị được giao thực hiện;

Quyết định những nội dung khác có liên quan đến việc quản lý sử dụng nhà chung cư.

Đối với nhà chung cư có một chủ sở hữu thì Hội nghị nhà chung cư không nhất thiết phải thực hiện các nội dung quy định tại điểm c và d nêu trên.

Mọi quyết định của Hội nghị nhà chung cư phải đảm bảo nguyên tắc theo đa số thông qua hình thức biểu quyết hoặc bỏ phiếu và được xác lập bằng văn bản.

Theo quy định tại Điều 11 Quy chế quản lý sử dụng nhà chung cư, Ban hành kèm theo Quyết định số 08 /2008/QĐ-BXD ngày 28/05/2008 của Bộ trưởng Bộ Xây dựng, thì tổ chức, hoạt động của Hội nghị nhà chung cư.

Công ty Luật TNHH Everest với đội ngũ luật sư, chuyên gia nhiều kinh nghiệm có thể hỗ trợ quý vị giải quyết các vấn đề pháp lý. Hãy gọi 1900 6218 – Tổng đài tư vấn pháp luật online của Công ty Luật TNHH Everest.


Chứng nhận quyền sở hữu nhà ở đối với hộ gia đình, cá nhân trong nước

Tôi rất cần giải đáp của của các luật sư, chuyên gia pháp luật về vấn đề sau, đề nghị Công ty Luật TNHH hỗ trợ: Chứng nhận quyền sở hữu nhà ở đối với hộ gia đình, cá nhân trong nước?


Bộ phận tư vấn luật bất động sản của Công ty Luật TNHH Everest trả lời:

Căn cứ quy định tại Điều 8 Nghị định số 88/2009/NĐ-CP của Chính phủ ngày 19.10.2009 về cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất, thì chủ sở hữu nhà ở được chứng nhận quyền sở hữu nhà ở nếu thuộc đối tượng được sở hữu nhà ở tại Việt Nam theo quy định của pháp luật về nhà ở và có giấy tờ chứng minh việc tạo lập hợp pháp về nhà ở. Đối với cá nhân, hộ gia đình trong nước thì giấy tờ chứng minh việc tạo lập hợp pháp về nhà ở là một trong các loại giấy tờ sau:

- Giấy phép xây dựng nhà ở đối với trường hợp phải xin giấy phép xây dựng theo quy định của pháp luật về xây dựng;

- Hợp đồng mua bán nhà ở thuộc sở hữu nhà nước theo quy định tại Nghị định số 61/CP ngày 05.07.1994 của Chính phủ ngày 05.07.1994;

- Giấy tờ về giao hoặc tặng nhà tình nghĩa, nhà tình thương, nhà đại đoàn kết;

- Giấy tờ về sở hữu nhà ở do cơ quan có thẩm quyền cấp qua các thời kỳ mà nhà đất đó không thuộc diện Nhà nước xác lập sở hữu toàn dân theo quy định tại Nghị quyết số 23/2003/QH11 ngày 26.11.2003 của Quốc hội khóa XI, Nghị quyết số 755/2005/NQ-UBTVQH11 ngày 02.04.2005 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;

- Giấy tờ về mua bán hoặc nhận tặng cho hoặc đổi hoặc nhận thừa kế nhà ở đã có chứng nhận của công chứng hoặc chứng thực của UBND theo quy định của pháp luật. Trường hợp nhà ở do mua, nhận tặng cho, đổi, nhận thừa kế hoặc thông qua hình thức khác theo quy định của pháp luật kể từ ngày Luật Nhà ở có hiệu lực thi hành thì phải có văn bản về giao dịch đó theo quy định tại Điều 93 của Luật Nhà ở. Trường hợp nhà ở do mua của doanh nghiệp đầu tư xây dựng để bán thì phải có hợp đồng mua bán nhà ở do hai bên ký kết; trường hợp mua nhà kể từ ngày 01.07.2006, thì ngoài hợp đồng mua bán nhà ở, bên bán nhà ở còn phải có một trong các giấy tờ về dự án đầu tư xây dựng nhà ở để bán;

- Bản án hoặc quyết định của TAND hoặc giấy tờ của cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết được quyền sở hữu nhà ở đã có hiệu lực pháp luật.

Trường hợp đặc biệt:
- Người đề nghị chứng nhận quyền sở hữu nhà ở có một trong năm trong những giấy tờ quy định ở phần trên, nhưng giấy tờ đó ghi tên người khác thì phải có một trong các giấy tờ về nhận chuyển nhượng nhà ở trước ngày 01.07.2006 có chữ ký của các bên và phải được UBND cấp xã xác nhận; trường hợp nhà ở nhận chuyển nhượng trước ngày 01.07.2006 mà không có giấy tờ về việc đã nhận chuyển nhượng nhà ở có chữ ký của các bên thì phải được UBND cấp xã xác nhận về chuyển nhượng;

- Cá nhân trong nước không có một trong những giấy tờ quy định nêu ở phần trên thì phải có giấy tờ xác nhận của UBND cấp xã về nhà ở đã được xây dựng trước ngày 01.07.2006, nhà ở không có tranh chấp, được xây dựng trước khi có quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch xây dựng hoặc phải phù hợp quy hoạch đối với trường hợp xây dựng sau khi có quy hoạch; trường hợp nhà ở xây dựng từ ngày 01.07.2006 thì phải có giấy tờ xác nhận của UBND cấp xã về nhà ở không thuộc trường hợp phải xin giấy phép xây dựng, không có tranh chấp và đáp ứng điều kiện về quy hoạch.
Nếu đáp ứng một trong những điều kiện nêu trên, ông (bà) có thể làm thủ tục xin cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở theo quy định pháp luật.

ông ty Luật TNHH không đảm bảo nội dung tư vấn pháp luật: “Chứng nhận quyền sở hữu nhà ở đối với hộ gia đình, cá nhân trong nước” có thể áp dụng cho mọi trường hợp. Quý vị chỉ nên coi nội dung này như nguồn tham khảo. Hãy gọi tới Tổng đài tư vấn pháp luật trực tuyến: 1900 6218, để nhận được các ý kiến pháp lý chuyên sâu từ các luật sư có kinh nghiệm của Công ty Luật TNHH Everest.


Nguyên tắc xác định giá dịch vụ nhà chung cư

Gia đình tôi mua căn nhà chung cư cách đây 2 năm. Trong năm nay, gia đình tôi đã hai lần nhận được thông báo tăng phí dịch vụ chung cư. Đề nghị luật sư cho biết nguyên tắc xác định giá dịch vụ nhà chung cư?


Bộ phận tư vấn luật bất động sản của Công ty Luật TNHH Everest trả lời:

Điều 2 Thông tư số 37/2009/TT-BXD của Bộ Xây dựng ngày 1-12-2009, hướng dẫn phương pháp xác định và quản lý giá dịch vụ nhà chung cư, quy định rõ:

Giá dịch vụ nhà chung cư được xác định theo nguyên tắc tính đúng, tính đủ các chi phí, một phần lợi nhuận định mức hợp lý để quản lý, vận hành nhà chung cư hoạt động bình thường, nhưng phải phù hợp với thực tế kinh tế xã hội của từng địa phương và thu nhập của người dân từng thời kỳ và được trên 50% các thành viên trong Ban quản trị nhà chung cư thông qua bằng hình thức biểu quyết hoặc bỏ phiếu kín. Đối với nhà chung cư chưa thành lập được Ban quản trị thì giá dịch vụ nhà chung cư phải được trên 50% hộ dân cư đang sống tại nhà chung cư nhất trí thông qua bằng hình thức biểu quyết hoặc bỏ phiếu kín. Trường hợp giá dịch vụ nhà chung cư đã có thỏa thuận trong hợp đồng mua bán căn hộ thì thực hiện như thỏa thuận đó. Chi phí dịch vụ nhà chung cư trong giá dịch vụ nhà chung cư được thu, chi theo nguyên tắc tự thu, tự trang trải và công khai, nhằm bảo đảm nhà chung cư hoạt động bình thường. Các chi phí sử dụng nhiên liệu, điện, nước, điện thoại, internet và các dịch vụ khác của từng căn hộ không tính trong giá dịch vụ nhà chung cư, mà do người sử dụng căn hộ trực tiếp chi trả với đơn vị cung cấp dịch vụ đó (nếu có hợp đồng sử dụng riêng) hoặc trả cho doanh nghiệp quản lý vận hành (nếu không có hợp đồng sử dụng riêng) theo khối lượng thực tế tiêu thụ và được tính toán cộng thêm phần hao hụt (nếu có). Chi phí bảo trì là toàn bộ chi phí cho việc duy tu, bảo dưỡng, sửa chữa nhỏ, sửa chữa vừa, sửa chữa lớn và sửa chữa đột xuất, nhằm duy trì chất lượng của nhà chung cư và không tính vào giá dịch vụ nhà chung cư.

Nguồn thu từ kinh doanh các dịch vụ khác thuộc phần sở hữu chung của nhà chung cư (nếu có) được hạch toán theo đúng chế độ tài chính theo quy định của Bộ Tài chính và để bù đắp chi phí dịch vụ nhà chung cư, nhằm mục đích giảm giá dịch vụ nhà chung cư. Đối với dự án nhà chung cư có sử dụng dịch vụ cao cấp không thuộc phần sở hữu chung (như tắm hơi, bể bơi, sân tennis hoặc các dịch vụ cao cấp khác) thì do người sử dụng dịch vụ cao cấp đó thỏa thuận với doanh nghiệp quản lý vận hành và không tính vào giá dịch vụ nhà chung cư.

Công ty Luật TNHH Everest với đội ngũ luật sư, chuyên gia nhiều kinh nghiệm có thể hỗ trợ quý vị giải quyết các vấn đề pháp lý. Hãy gọi 1900 6218 – Tổng đài tư vấn pháp luật online của Công ty Luật TNHH Everest.